kiến thức y khoa

DƯỢC ĐỘNG HỌC VÀ LIỀU DÙNG THUỐC Ở TRẺ EM
[ Cập nhật vào ngày (10/12/2018) ]

Dược động học của nhiều thuốc có sự khác giau giữa trẻ em và người lớn. Quá trình dược động học như hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ sẽ trải qua những thay đổi theo quá trình tăng trưởng và phát triển. Việc tìm ra liều dùng chính xác cho trẻ em rất phức tạp do thiếu các nghiên cứu dược động học. Liều dùng cho trẻ em không thể lúc nào cũng được ngoại suy trực tiếp từ các nghiên cứu của người lớn. Đa số liều dùng cho trẻ em được tính toán dựa trên tuổi và cân nặng của trẻ. Liều dùng này có thể cần được điều chỉnh tùy thuộc vào từng cá thể trẻ và đáp ứng của trẻ trong quá trình điều trị. Việc kiểm tra tính toán liều là rất quan trọng, vì thế Khoa Dược thông tin đến các khoa về dược động học.


I. DƯỢC ĐỘNG HỌC


1. Sự hấp thu

- Thành phần của dịch ruột và tính thấm của ruột thay đổi nhiều ở trẻ em. Sự hấp thu của các thuốc uống bị ảnh hưởng do sự thay đổi pH dạ dày (pH giảm dần trong suốt giai đoạn nhũ nhĩ và phải đến năm 2 tuổi mới đạt pH như ở người lớn).

- Trẻ nhũ nhi có nguy cơ độc tính cao hơn khi sử dụng các thuốc dùng qua da do tỷ lệ diện tích bề mặt so với thể tích cơ thể lớn hơn và thuốc cũng được hấp thu qua da nhiều hơn do lớp tế bào sừng mỏng. Điều này giải thích tại sao trẻ em có nguy cơ bị methaemoglobin huyết cao hơn (tăng nồng độ methenmoglobin – một dạng của haemoglobin trong máu) khi sử dụng thuốc gây tê tại chỗ.

2. Sự phân bố

- Thể tích phân bố thay đổi do lượng nước và mỡ dự trữ thay đổi.

- Trẻ nhũ nhi có tỷ lệ nước ngoại bào cao hơn và lượng mỡ dự trữ tăng trong suốt thời gian phát triển cơ thể. Nồng độ protein huyết tương thấp nên làm giảm liên kết thuốc – protein, điều này tất yếu dẫn tới tăng sự phân bố và tăng nồng độ đỉnh của các thuốc liên kết nhiều với protein như cefazolin

- Trẻ béo phì có nguy cơ xảy ra độc tính cao hơn với một số thuốc không phân bố vào mỡ như paracetamol, nếu cân nặng thực tế được sử dụng để tính liều.

3. Sự chuyển hóa

- Chuyển hóa thuốc là khác biệt phức tạp nhất giữa người lớn và trẻ em. Các enzym CYP 450 hoạt động từ trong bào thai. Hoạt tính enzym này bắt đầu tăng lên ở các giai đoạn sau thai kỳ và mỗi enzym có một tốc độ phát triển khác nhau, điều này đã được quan sát thấy ở trẻ đẻ non. Mô hình của các enzym hoạt động thay đổi trong vài tháng đầu đời để đạt bằng hoặc vượt qua mức hoạt động của người lớn khi trẻ khoảng 2 tuổi.

- Trong khi hầu hết các enzym tăng hoạt tính trong vài tháng đầu đời, thì 1 số lại được thay thế bằng các enzym khác, ví dụ như CYP3A7 được thay thế bằng CYP3A4.

- Sự phát triển của các quá trình chuyển hóa, ví như quá trình glucuronid hóa, dù không rõ lắm nhưng phải mất ít nhất 3 năm để có thể hoạt động một cách trọn vẹn.

- Lưu lượng máu qua gan tương đối cao ở trẻ nhỏ, điều này có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa qua gan lần đầu đặc biệt với các thuốc có tỷ lệ chuyển hóa qua gan cao, như propanolol.

4. Sự thải trừ

- Sự thải trừ là một bước quan trọng trong việc loại bỏ thuốc hay bất kì chất chuyển hóa nào ra khỏi cơ thể. Nó dựa trên sự phát triển của chức năng gan, thận theo thời gian. Trẻ sinh non phát triển con đường bài tiết qua thận chậm hơn so với trẻ sinh đủ tháng.

- Tốc độ lọc cầu thận của trẻ như ở người lớn khi trẻ khoảng 2 tuổi.

II. LIỀU LƯỢNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

- Chế độ liều chỉ dựa trên tuổi thường không đúng và thường dẫn đến các tác dụng có hại, độc tính, hoặc giảm hiệu quả điều trị. - Hiệu chỉnh liều cho trẻ dựa vào liều của người lớn mà chỉ căn cứ vào cân nặng là không đủ chính xác cho suốt quá trình phát triển của trẻ. Trong khi phương pháp hiệu chỉnh liều này có thể có giá trị ở những trẻ lớn và trẻ vị thành niên- những trẻ có cấu tạo và chức năng các cơ quan tương tự như người lớn, nhưng phương pháp này lại vẫn thiếu hiệu quả khi áp dụng cho trẻ tập đi và trẻ sơ sinh.

- Khi kê đơn cho trẻ em, các nhà lâm sàng nên tham khảo các tài liệu nhi khoa, các tài liệu chỉnh liều có uy tín, như sổ tay liều dùng thuốc ở trẻ em AMH (Sổ tay Y khoa Úc). Trong một vài trường hợp, liều có thể được tính dựa trên cân nặng lý tưởng. Trẻ em điều trị dài ngày cần được hiệu chỉnh liều sao cho phù hợp với sự phát triển của chúng.

- Nên nhớ, thông thường liều được tính cho trẻ em luôn luôn không được vượt quá liều dùng ở người lớn.

- Điều chỉnh liều dựa trên các đáp ứng lâm sàng có thể là cần thiết trong quá trình điều trị cho trẻ.

III. ẢNH HƯỞNG SINH LÝ HỌC CỦA TRẺ ĐẾN DƯỢC ĐỘNG HỌC CÁC THUỐC THÔNG DỤNG

Thuốc

Sự khác biệt về dược động học

Ảnh hưởng

Gentamicin

Thể tích phân bố giảm cùng với sự giảm tỷ lệ phần trăm lượng nước trong cơ thể

Liều mg/kg cao hơn khi dùng ở trẻ nhỏ hơn để đảm bảo nồng độ đỉnh trong điều trị.

Codein

Chuyển hóa thành morphine, cùng với việc giảm độ thanh thải nên rất khó dự đoán

Có thể tích lũy nhiều. Không khuyến cáo dùng cho trẻ em

Theophyllin

Tăng độ thanh thải

Yêu cầu liều mg/kg cân nặng cao hơn khi dùng cho trẻ nhũ nhi và trẻ em

Phenytoin

Giảm hấp thu qua đường uống , do pH dạ dày cao, đồng thời giảm liên kết với protein ở trẻ nhũ nhi

Sinh khả dụng giảm, tuy nhiên nồng độ thuốc trong máu yêu cầu thấp hơn do liên kết với protein thấp

Benzyl alcohol (tá dược)

Giảm độ thanh thải

Tích lũy trên trẻ nhũ nhi, gây hội chứng thở gấp

 




DS. Phan Thiên Nhi - Khoa Dược - BVĐK tỉnh Hậu Giang

  In bài viết



tin mới


Đơn vị trực thuộc

LIÊN KẾT

Giải Nobel Y học

SƠ đồ đường đi